TRẠI SẢN XUẤT GIỐNG CÂY TRỒNG THANH DUY
Đ/C: SƠN ĐỊNH – CHỢ LÁCH – BẾN TRE
ĐT: 0753.872 915 - 0937 973 888 – 0908 181 693
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
CÂY CAM, QUÝT
Cam quýt không thích ánh sàng trực tiếp và cường độ ánh sáng thích hợp là 10000-15000 lux (tương đương ánh sáng lúc 8 giờ sáng hoặc 4-5 giờ chiều ở Việt Nam). Cam quýt cần khoảng 1000-2000mm/năm và phân bố đều trong năm. Đất trồng cam quýt phải có tầng canh tác dày 0,5-1m. Đất thịt pha, thông thoáng,thoát nước tốt, màu mỡ, độ pH từ 5-7 là thích hợp cho cam quýt.
KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
Thời vụ trồng: Có thể trồng quanh năm, đầu hoặc cuối mùa mưa (nếu trồng trong mùa nắng mà đủ nước tưới cây sẽ phát triển tốt hơn và ít bị sâu bệnh tấn công). Khuyến cáo của Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam thì tốt nhất nên trồng vào mùa khô (10 – 3 dương lịch hàng năm)
Khoảng cách trồng: Cây cam nên trồng khoảng cách 3mx4m; quýt 4mx4m,4mx5m.
Đắp mô trồng: Đất làm mô có thể từ đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông, mô trồng cao khoảng 20-40cm và đường kính ban đầu là 60-80cm.Trước khi trồng nên trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục vào mô, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng.
Trồng cây chắn gió và cây che mát. Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ,do đó phải trồng cây che mát ven mép mương như tràm ,mãng cầu xiêm,…hoặc trồng giữa liếp như cóc, so đũa,…đồng thời phải trồng cây chắn gió như dừa, xoài, vông,...để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, cũng như sự lây lang của côn trùng, mầm bệnh.
Tủ gốc giữ ẩm: Đa số rễ hấp thu dinh dưỡng của cam quýt mọc cạn, nhiệt độ của đất vào mùa nắng cao, ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó cần phải tủ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ (cách gốc 20cm), biện pháp nầy cũng tránh cỏ dại phát triển, khi cây cam quýt còn tơ có thể trồng xen hoa màu (bắp, đậu,k hoai).
Mực nước trong mương: Cam quýt rất mẫn cảm với nước, vì vậy cần để mực nước trong mương cách mặt liếp 50-80cm.Trong mùa nắng nên để nước vô ra tự nhiên để rửa phèn và tích tụ phù sa.
Vét bùn, bồi liếp: Khi cây trưởng thành, hàng năm hoặc 2 năm/lần tiến hành vét mương lấy 1 lớp sình mỏng 5cm đưa lên liếp để nhằm mục đích cung cấp thêm dinh dưỡng cho cây, đồng thời nâng cao tầng canh tác.
Xiết nước: Hiện nay, ngoài biện pháp xiết nước để xử lý ra hoa cho quýt tiều, cam sành, chúng ta chưa có biện pháp nào hữu hiệu hơn, tuy nhiên có nhiều bất lợi là tuổi thọ có thể giảm.Vì vậy, để kéo dài thời kỳ kinh doanh của cây cam quýt, chúng tôi khuyến cáo thời gian xiết nước không nên quá 20 ngày.
+ Ưu điểm của xiết nước: Cây ra hoa đồng loạt, thuận lợi trong việc chăm sóc, bón phân,thu hoạch và tổng thu nhập kinh tế cao.
+ Nhược điểm: Bộ rễ có khuynh hướng ăn sâu trong thời gian không tưới nước, cây mau già cổi.
-Phân bón: Khi cây cam quýt còn tơ (năm I,II ) có thể dùng Urê pha nước để tưới ( 40g Urê/8 lít nước) gốc và cây phát triển mạnh, khoảng 3 tháng tưới một lần.
Bảng khuyến cáo bón phân cho cam quýt
|
Năm Tuổi |
Urêa (g/cây/năm) |
Super Lân (g/cây/năm) |
KCl(g/cây/năm) |
|
|
200 450 900 |
500 1000 1500 |
50 170 250 |
Ở thời kỳ kinh doanh ( cây trên 5 năm tuổi ) phân bón cho quýt tiều trên những vườn thâm canh cao: từ 400-900g N,200-460 g P2O5 ,100-200g K2O/cây/năm theo tỷ lệ N:P2O5 : K2O = 3 :! : 0,2.
Ở thời kỳ kinh doanh (cây trên 5 năm tuổi) phân bón cho cam sành trên những vườn thâm canh cao: 380-680 gam N+150-400 gam P2O5 + 100-150 gam K2O /cây/năm.
Dạng phân sử dụng:
- Tăng cường sử dung phân hữu cơ, phân sinh học. Định kỳ tưới phân sinh học SUPAGRO tăng sức cho cây khỏe mạnh, giảm bệnh hại.
- Nên sử dụng ở dạng phân Urê, phân Super lân nên bón sau thu hoạch, các dạng phân có chứa lân khác (DAP, NPK) nên bón vào giai đoạn nuôi quả.
-Phân chuồng: 5-20 kg/gốc/năm.
Đối với cây trưởng thành, ở giai đoạn kinh doanh cần chú ý bón phân vào các thời kỳ sau:
+ Sau thu hoạch ( bón phục hồi ) 1/5 N + 2/5P + hữu cơ
+ Sau khi xiết nước ( tưới trở lại)1/5 N + 1/5 P + 1/5 K
+ Sau khi quả đậu 1/5 N + 1/5 P + 1/5 K
+ Giai đoạn phát triển nhanh (*) 2/5 N + 1/5 P
+ Một tháng trước thu hoạch 3/5 K.
Giai đoạn nuôi quả, ngoài ¼ lượng đạm còn lại, thì lượng phân nên cung cấp tùy theo mức độ đậu quả và sự phát triển của quả, và chia làm nhiều lần bón, kết hợp với phân bón lá, chú ý phòng ngừa sâu bệnh gây hại trái ở giai đoạn này.
Tóm lại: Liều lượng phân bón tùy theo loại đất, giống, giai đoạn sinh trưởng mà lượng phân cung cấp cho cây thích hợp.
Cách bón: Dựa theo chiều cao của tán cây mà cuốc rảnh xung quanh gốc sâu 10-20cm, rộng 20-30cm, cho phân vào, lấp đất lại và tưới nước.
Khi cây giao tán nên dùng cuốc xúp nhẹ lớp đât xung quanh cây theo hình chiếu của tán, và phải cách gốc 50 cm. Hoặc có thể rải phân thẵng lên mặt liếp, tốt nhất là tưới đẩm liếp trước, sau đó mới bón phân.
Có thể dùng phân tôm, phân cá, phân dơi để tưới hoặc bón cho cây cam quýt, hoặc dùng một số loại phân bón lá phun 4-5 lần/vụ quả ở giai đoạn bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần phun cách nhau 15 ngày.
Xử lý phòng ngừa sâu bệnh: Hàng năm nên quét vôi, xử lý thuốc trừ nấm bệnh cho gốc quýt tiều. Tránh tưới nước, bón phân hoặc vét sình thẳng vào gốc. Cần phun thuốc phòng ngừa sâu bệnh các đợt đọt non và giai đoạn mang trái. Để hạn chế mầm bệnh trong đất gây hại bộ rễ cam quýt (nhất là trong mùa mưa có độ cao) nên dùng Zineb rải gốc, trung bình 40 kg/ha và chia làm 2 lần vào tháng 5 ÂL và tháng 9 ÂL. Phát hiện sớm những cây có triệu chứng bệnh greening để kịp thời loại bỏ.
PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH
SÂU VẼ BÙA: (Phyllocnistis citrella Stainton). Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những dường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp.Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển. Biện pháp phòng trừ: chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu. Dùng các loại thuốc nội hấp thư cymbush 8cc/bình 8 lít nước, Bi 58 nồng độ 0,1 %, Lannate 20g/bình 8 lít nước.
RẦY MỀM(Toxoptera sp: thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây có múi. Phòng trị: Phun thuốc định kỳ các đợt lộc của cây như: Supracide 40EC (10-15 cc/bình 8 lít), Polytrin P 440EC (8-15cc/bình 8 lít).
RẦY CHỔNG CÁNH (diaphorina citri Kuwayama).
Phòng trừ rầy chổng cánh
Không nên trồng các cây kiểng họ cam quýt như nguỵêt qưới,cằn thăng,Kim quýt gần vườn cam quýt,nhất là vườn ươm sản xuất cây giống. Nếu có trồng các cây kiểng trên thì phải thường xuyên phun thuốc để trừ rầy nhất là đối với nguyệt quới. Trồng cây chắn gió boa chung quanh vườn để ngăn chặn rầy từ nơi khác bay đến, vành đai chắn gió có thể là các loại cây như: dương, bình linh lá.
Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt ra đọt non tập trung, để xịt thuốc trừ rầy. Thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau những cơn giông lớn. Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy đẻ loại trừ nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe. Trước khi hủy, xịt thuốc để loại trừ rầy chổng cánh bay sang các cây khác lân cận đó. Bảo vệ và tạo điều kiện cho các loài thiên địch phát triển bằng cách phun thuốc hợp lý.
Phun thuốc:
+Khi cây ra đọt non 1-2 cm.
+Sau những cơn giông mạnh có thể đưa rầy từ nơi khác đến.
+Phun tập trung vào các đợt đọt non.
+Dùng các loại thuốc như:
Applaud 10wp 8g/bình 8 lít nước.
Applaud mipc 12g/bình 8 lít nước.
Trebon 10EC 8cc/bình 8 lít nước.
Bassa 50EC 16cc/bình 8 lít nước.
NHỆN ĐỎ: Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm. Phòng trị: phun các loại thuốc đặc trị nện đỏ như Bi 58,Danitol.
BỆNH LOÉT: (Canker) do vi khuẩn(Xanthomonas campestris pv.citri) gây hại. Ban đầu lá, trái cành đều bị nhiễm, dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng nước, màu xanh sậm, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái, chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng vàng. Biện pháp phòng trị: Cắt bỏ, tiêu hủy những cành, lá bệnh, vệ sinh nghiêm ngặt kể cả quần áo công nhân làm vườn. Phun các loại thuốc gốc đồng như Copperzinc,Kasuran BTN(1,5-2%), hoặc Zineb 80 BHN(1/500-1/800) ở giai đoạn cây chờ đâm tượt ra hoa và sau đó khi 2/3 hoa đã rụng cánh và tiếp tục phun định kỳ 2 tuần/lần cho đến khi trái chín. Xử lý hạt, mắt ghép trước bằng nước Javel hay nhiệt (nước: 5nóng:5 lạnh) trong 20 phút.
BỆNH VÀNG LÁ GREENING
Có thể phát hiện các triệu chứng ở bất kỳ thời điểm nào trong năm (ở vùng châu Á)mặc dù cần khẳng định lại bằng các phương pháp trong phòng thí nghiệm. Sau đây là tất cả các triệu chứng rất điển hình của bệnh: lá vàng lốm đốm là điển hình nhất của bệnh (chứa nhiều vi khuẩn) song các triệu chứng đi kèm như vàng lá gân xanh (thiếu kẽm), vàng lá thiếu Mangan cũng dể dàng tìm thấy. Cần lưu ý gân lá vẫn xanh, trong khi nếu lá vàng gân vàng thì lại điển hình hơn của bệnh do nấm Phytophthora.
Phòng trị: Không có thuốc trị bệnh mà chỉ có thể sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ và có tính cách rộng rãi trong vùng mới có hiệu quả cao.
1. Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh, cây ký chủ của rầy kể cả cây kiểng nguyệt quới, dây tơ hồng chung quanh gần vườn sau khi đã phun thuốc trừ rầy chổng cánh.
2. Trồng cây giống sạch bệnh, cách ly nguồn nhiễm bệnh, nên trồng thưa và có cây chắn gió bảo vệ trong và ngoài.
3. Sử dụng thuốc hóa học như Applaud 10BHN, Applaud MIPC 25% BTN,Bassa,Trebon,…Phun định kỳ bảo vệ các đợt lá non, nhất là vào mùa xuân, hay đầu mùa mưa, vì rầy luôn chọn các đọt non để đẻ trứng (nếu không sử dụng được biện pháp thiên địch một cách có hiệu quả).
BỆNH THỐI GỐC CHẢY NHỰA Do nấm Phytopthora sp gây ra. Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ mảnh, rể ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng. Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và thường thấy ở các vườn trồng dầy.
Phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như cam ba lá, Cam chua,…đất trồng phải ráo, không tủ cỏ rác hay bồi bùn lấp gốc, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Nên theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, Copper B,…Thu gom, rải vôi và chôn sâu các trái rụng do bệnh là biện pháp quan trọng để hạn chế sự lây lan.
LƯU Ý KHI TRỒNG CÂY CÓ MÚI
Khuyến cáo của Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam: Trồng cây sạch bệnh (chặt hết các cây đã có triệu chứng bệnh trong vườn và khu vực xung quanh). Trồng ổi xá lỵ trước khoảng vài tháng rồi trồng cam (ổi có tác dụng xua đuổi rầy chổng cánh). Cây trước khi trồng phải được tưới thuốc trừ rầy chổng cánh như Confidor…để rầy không tấn công lên cây trồng mới. Trồng trong tháng mùa khô (tháng 10 - 3 dương lịch) thay vì trồng những tháng mùa mưa như trước đây. Giữ cho cây sạch bệnh bằng cách tiếp tục tưới thuốc vào gốc cây, thuốc trừ sâu lưu dẫn như Admire, Actara, Confidor…2 tháng/lần (theo liều hướng dẫn trên bao bì). Khi cây lớn, phun thuốc nhặt hơn, phun lên lá mỗi khi cây có lọc non mới. Bón phân hữu cơ tăng sức đề kháng, khả năng chống chịu cho cây.
Các mô hình mẫu được ứng dụng kỹ thuật do các chuyên gia JICA và SOFRI nghiên cứu hướng dẫn cụ thể như: thiết kế mương liếp bảo đảm thông thoáng có lối đi để quản lý cây trồng, mật độ trồng thưa, đắp mô cao, bón lót phân hữu cơ, sử dụng giống cây sạch bệnh, chọn thời điểm xuống giống để hạn chế rầy chổng cánh (trồng vào cuối mùa mưa), trồng xen ổi để xua đuổi rầy chổng cánh, sử dụng thuốc lưu dẫn để hạn chế rầy chổng cánh tấn công truyền virus gây bệnh vàng lá Greening, bón phân nhiều lần trong năm (theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật), tỉa cành tạo tán…
Việc đầu tiên cần chú ý khi trồng cây có múi nói chung, cây cam sành nói riêng ở vùng ĐBSCL là nên trồng loại cây này trên mô. Sử dụng phương pháp này là để xả phèn và nâng tầng canh tác ở các vùng đất thấp. Mương thoát nước có chiều rộng từ 1– 3m, liếp rộng từ 6– 8m. Có thể trồng theo các mô đắp trước hay trồng theo kiểu cuốn chiếu. Cần làm vệ sinh vườn, nhổ bỏ và tiêu hủy các cây nhiễm bệnh (trong trường hợp cải tạo lại vườn); trồng cây chắn gió xung quanh vườn để chống sự phát tán của rầy chổng cánh từ nơi khác đến (cây chắn gió giữ độ cao khoảng 4m); không trồng các loại cây hấp dẫn đối với rầy chổng cánh như: kim quýt, nguyệt quới, cần thăng… Ổi trồng xen nên chọn giống sạch bệnh và có hiệu quả kinh tế cao như ổi xá lỵ nghệ, ổi không hạt… Cây ổi khi trồng nên có độ cao khoảng 40cm, cây cách cây 2,5m x 2,5m hoặc 3m x 3m và nên trồng trước khi trồng cam sành khoảng trước 6 tháng. Chăm sóc tỉa cành ổi để cây xây tán tốt có đủ mùi xua côn trùng. Khi trồng cam sành cũng chọn giống sạch bệnh, cây cách cây 2,5m x 2,5m hoặc 3m x 3m. Chăm sóc và tỉa cành hai loại cây trong vườn để cây ổi có thể cao hoặc thấp hơn cây cam khoảng 20– 30cm. Về mặt kỹ thuật, trong năm có thể cắt đọt nhiều lần để cây ổi làm trái.
----------------
T.TÂM tổng hợp (theo tài liệu Sofri, Sở KHCN Cần Thơ…)
- Kỹ Thuật Trồng Xoài (12.06.2019)
- Kỹ Thuật Trồng Sầu Riêng (12.06.2019)
- Cách phòng ngừa xơ đen hiệu quả trên mít Thái siêu sớm (17.09.2017)
- Kỹ Thuật Trồng Mít Thái Siêu Sớm (17.09.2017)


